TẬP LÀM VĂN SỐ 3 LỚP 8

Share:

TOP 72 bài viết số 3 lớp 8 (Đề 1 đến Đề 4), kèm theo dàn ý chi tiết, giúp các em học sinh lớp 8 có thêm ý tưởng mới để viết bài văn thuyết minh kính đeo mắt, thuyết minh về bút máy hoặc bút bi, thuyết minh đôi dép lốp và thuyết minh chiếc áo dài Việt Nam thật hay.

Bạn đang đọc: Tập làm văn số 3 lớp 8

Nhờ đó, các em sẽ rèn được kỹ năng viết văn thật tốt. Bên cạnh đó, các em còn có thể tham khảo thêm bài viết số 5 để đạt kết quả cao trong các bài viết của mình. Cụ thể đề bài của 4 đề trong bài viết số 3 lớp 8 như sau:

Đề 1: Thuyết minh về kính đeo mắtĐề 2: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút biĐề 3: Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiếnĐề 4: Giới thiệu chiếc Áo dài Việt Nam

Tuyển tập 60 bài văn mẫu bài viết số 3 lớp 8

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1: Thuyết minh về kính đeo mắtBài viết số 3 lớp 8 đề 2: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút biBài viết số 3 lớp 8 đề 3: Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiếnBài viết số 3 lớp 8 đề 4: Giới thiệu về chiếc Áo dài Việt Nam

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1: Thuyết minh về kính đeo mắt

Dàn ý bài viết số 3 lớp 8 đề 1

1. Mở bài

- Giới thiệu về kính đeo mắt

2. Thân bài

2.1. Kính đeo mắt có xuất xứ như thế nào, có từ bao giờ

- Kính đeo mắt có từ thời gian nào, do ai tạo ra

- Tại sao kính đeo mắt từ khi xuất hiện lại ngày càng trở nên phổ biến

2.2. Kính đeo mắt có những loại kính gì

- Những loại kính mắt đa dạng

- Những loại kính đeo mắt phục vụ nhu cầu gì của người sử dụng

2.3. Kính đeo mắt có cấu tạo như thế nào

- Cấu tạo kính đeo mắt được chia thành mấy phần

- Mỗi phần kính đeo mắt làm bằng chất liệu gì và kiểu mẫu như thế nào

2.4. Giá trị mà kính đeo mắt mang lại cho người sử dụng, cho xã hội

- Công dụng kính đeo mắt với người sử dụng

- Vai trò của kính đeo mắt với xã hội ngày nay

3. Kết bài

- Khẳng định tương lai của kính đeo mắt

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1 - Mẫu 1

Chiếc kính đeo mắt là một phát minh lớn của con người nhằm hỗ trợ mắt trong việc học tập, công việc, đời sống hàng ngày. Chiếc kính mắt đầu tiên ra đời ở Ý vào 1920 và được phát triển, cải tiến nhiều nhằm hoàn thiện và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.


Chiếc kính mắt lần đầu tiên ra đời Ý vào năm 1920 nhưng chỉ gồm hai mắt kính nối với nhau bằng một sợi dây để lên mũi. Năm 1930 chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra gọng kính. Cấu tạo chiếc kính đeo gồm hai bộ phận chính gọng kính và tròng kính, gọng thường làm bằng nhựa cứng hoặc dẻo.

Gọng kim loại sẽ giúp người đeo thấy cứng cáp và chắc chắn. Gọng nhựa dẻo và bền chịu được áp lực lớn, với gọng bằng titan thì rất nhẹ, không gãy. Giá cả của các loại gọng này cũng khác nhau. Dù chất liệu làm bằng nhựa hay kim loại thì đều có nhiều màu sắc và kiểu dáng tạo nên các vẻ đẹp riêng. Gọng kính còn có khớp động để mở ra và gập lại.

Trong chiếc mắt kính thì tròng kính rất quan trọng, tròng kính thường làm bằng thủy tinh hoặc nhựa cao cấp, với tròng kính bằng thủy tinh rất dễ vỡ. Với tròng kính làm bằng nhựa nhưng lại dễ bị trầy xước mà đã trầy thì không dùng được. Tròng kính nên có loại chống trầy và chống tia cực kiếm. Tròng kính gắn vào gọng nhờ một sợi dây cước trắng và siết chặt tròng kính nhờ đinh vít. Gần hai tròng có hai miếng đệm cao su hoặc nhựa giúp gác lên sóng mũi.

Kính đeo mắt cũng được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa vào chức năng đó là kính thuốc, kính râm,kính thời trang. Kính thuốc dùng cho những người bị bệnh về mắt, muốn đeo kính thì người bệnh về mắt phải đi đo thị lực để kiểm tra. Kính thời trang thường dùng để trang trí, làm đẹp là chủ yếu. Kính râm giúp bảo vệ mắt khi đi ngoài trời, nhìn chung là các loại kính đều có những chức năng riêng.


Chiếc mắt kính sử dụng không phức tạp, kính khi sử dụng nên nhẹ nhàng, dùng xong nên lau sạch tròng kính bằng khăn mềm, cất kính vào hộp. Sau khi sử dụng nên để trong ngăn bàn, mặt bàn…tránh các vật nặng đè vỡ. Nhớ thường xuyên phải lau sạch tròng kính bằng khăn chuyên dùng. Với gọng kính kim loại, nên kiểm tra, vặn chặt các ốc vít. Chiếc mắt kính phải cẩn thận khi sử dụng để tránh trầy xước, vỡ.

Như vậy, chiếc mắt kính gắn bó với cuộc sống, giúp ích cho học sinh và người lao động, đồng thời còn giúp đôi mắt sáng và giúp bảo vệ mắt trước các tác hại từ môi trường.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1 - Mẫu 2

Những vật dụng hàng ngày thì chiếc kính đeo mắt rất quen thuộc và được sử dụng trong học tập, công việc. Chiếc mắt kính giúp bảo vệ đôi mắt chính là “cửa sổ tâm hồn” của mỗi người không chỉ vậy, mắt kính còn dùng để trang trí.

Mắt kính có rất nhiều loại và tác dụng khác nhau, phù hợp với nhu cầu Với những người bị bệnh về mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị kính giúp họ nhìn rõ hơn. Người cận thị có thể nhìn được những vật ở xa, người viễn thị thì nhờ kính mà nhìn được những vật ở gần. Đối với người làm những công việc ngoài trời thì kính lại giúp mắt họ tránh khỏi gió, bụi,… Những người không bị bệnh khi ra đường nên mang theo một cặp kính để tránh nắng chói và gió bụi. Hay kính còn dùng để trang trí làm đẹp rất thời trang và sang trọng.

Mặc dù có nhiều loại nhưng về cơ bản, cấu tạo cặp kính như nhau. Một chiếc kính đeo mắt có hai bộ phận: Tròng kính và gọng kính. Gọng kính làm khung cho kính và là bộ phận nâng đỡ tròng kính. Phần trước đỡ lấy tròng kính và giúp tròng kính nằm vững trên mũi Gọng kính thường được làm bằng kim loại nhưng nhiều nhất vẫn là gọng nhựa. Bộ phận chủ yếu của kính đó là tròng kính, hình dáng tròng kính thường có hình tròn, vuông, chữ nhật… Tròng kính làm bằng nhựa chống trầy hay thủy tinh nhưng dễ vỡ. Chiếc kính đeo mắt còn có một số bộ phận phụ ví dụ như ốc, vít…


Kính sử dụng cũng đơn giản khi lấy và đeo kính dùng cả hai tay, dùng xong cần lau chùi cẩn thận và bỏ vào hộp đậy kín. Kính dùng lâu cần lau chùi trong quá trình học tập, làm việc, đeo kính phù hợp sẽ giúp chúng ta tránh khỏi nhức mỏi mắt, đau đầu, mỏi cổ…nếu bị bệnh về mắt cần đeo kính để giảm thiểu bệnh mặt, hoặc ngăn tình trạng bệnh nặng thêm.

Chiếc mắt kính đeo mắt vật dụng quen thuộc, phát minh nổi bật, mắt kính rất cần thiết cho đời sống con người, hãy sử dụng và phát huy tối đa công dụng giúp bảo vệ đôi mắt cửa sổ của tâm hồn bạn.

Chiếc mắt kính đeo mắt vật dụng quen thuộc, phát minh nổi bật, mắt kính rất cần thiết cho đời sống con người, hãy sử dụng và phát huy tối đa công dụng giúp bảo vệ đôi mắt cửa sổ của tâm hồn bạn.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1 - Mẫu 3

Trong những vật dụng mà chúng ta thường dùng thì chiếc kính đeo mắt rất cần thiết đối với mọi người thuộc các lứa tuổi khác nhau.

Cấu tạo của chiếc kính gồm hai bộ phận chính là gọng kính và mắt kính. Gọng kính được làm bằng nhựa cao cấp hoặc kim loại quý. Gọng kính chia làm hai phần: phần khung để lắp mắt kính và phần gọng để đeo vào tai, nối với nhau bởi các ốc vít nhỏ, có thể mở ra, gập lại dễ dàng. Chất liệu để làm mắt kính là nhựa hoặc thủy tinh trong suốt. Gọng kính và mắt kính có nhiều hình dáng, màu sắc khác nhau.

Kính đeo mắt có nhiều loại. Loại thường như kính râm, kính trắng không số dùng che nắng, che bụi khi đi đường. Loại kính thuốc gồm kính cận, kính viễn, kính loạn thị, kính dùng sau khi mổ mắt… Muốn sử dụng, người có bệnh về mắt phải đi đo thị lực để kiểm tra, từ đó mới có thể chọn kính chính xác, không gây ra các tác dụng phụ như nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn… Không nên vì lí do thẩm mĩ mà ngại đeo kính thuốc khi bị bệnh. Nếu vậy sẽ làm độ cận hoặc độ viễn của mắt tăng rất nhanh. Lúc sử dụng kính, nên nhẹ nhàng mở bằng hai tay. Dùng xong nên lau sạch tròng kính bằng khăn lau mềm, mịn. Cất kính vào hộp để ở nơi cố định dễ tìm như trong ngăn tủ, ngăn bàn, mặt bàn… tránh các vật nặng đè vỡ hoặc làm trầy xước mặt kính. Thường xuyên rửa kính bằng nước, lau sạch tròng kính bằng khăn chuyên dùng. Để mặt kính không biến dạng, khi đeo và tháo kính nên dùng hai tay cầm hai gọng kính. Đối với gọng kính kim loại, nên thường xuyên kiểm tra, vặn chặt các ốc vít để giữ chặt tròng kính. Phải dùng kính đúng độ thì thị lực đỡ suy giảm.


Kính đeo mắt ngoài tác dụng giúp cho chúng ta nhìn nhận sự vật chính xác, tăng cường hiệu quả học tập và lao động thì còn là vật trang sức làm tăng thêm vẻ duyên dáng, thanh lịch cho mỗi người.

Con người có năm giác quan thì thị giác là giác quan hoàn hảo nhất và quan trọng nhất. Vì vậy, việc giữ gìn để có đôi mắt trong sáng và tinh tường đồng nghĩa với bảo vệ cuộc sống của chính mình.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1 - Mẫu 4

Kính đeo mắt là một vật dụng rất quen thuộc và phổ biến trong đời sống thường ngày, từ lâu nay, người ta thường sử dụng kính đeo mắt khi bị tật khúc xạ, bị lão thị, khi cần bảo vệ mắt hay chỉ với mục đích thời trang và thẩm mỹ.

Cấu tạo của chiếc kính đeo mắt gồm hai phần chính là phần gọng và phần tròng kính. Gọng kính có hai loại phổ biến là gọng làm bằng kim loại chống rỉ và gọng làm bằng nhựa (cứng hoặc dẻo). Hiện nay, gọng nhựa được ưa chuộng hơn cả vì đẹp và bền, lại thời trang với đủ các loại màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng,... tùy ý chọn lựa. Kiểu dáng cũng rất đa dạng, có loại kính to, kính nhỏ, kính mắt tròn, kính mắt vuông,... phù hợp cho mọi khuôn mặt ở mọi lứa tuổi và giới tính.

Gọng kính cũng được chia làm hai phần, phần quai đeo và phần lắp mắt kính được nối với nhau bằng một bản lề nhỏ có ốc vặn. Quai đeo có dáng hơi cong ở đuôi để đeo vào tai, nơi lắp mắt ở phần sống mũi có hai phần nhỏ nhô ra gọi là giá đỡ để cố định kính.

Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì tròng kính chủ yếu làm bằng chất liệu thủy tinh, nó có ưu điểm là ít trầy xước, giữ được độ trong suốt lâu, nhưng kính thường nặng, nhất là những kính có độ cao, dễ vỡ và không an toàn cho người sử dụng. Ngày nay các loại kính bằng chất liệu thủy tinh ít được sử dụng nữa mà người ta thay thế bằng nhiều loại vật liệu tổng hợp ưu việt hơn như là: Plastic, trivex, photochromic,...

Kính đeo mắt cũng rất đa dạng trong công dụng khi đưa vào đời sống tùy vào nhu cầu sử dụng mà người ta cần có cách dùng khác nhau. Nếu là kính cận, viễn, loạn,... thì người sử dụng phải đi kiểm tra kĩ lưỡng về mắt để cắt kính cho đúng độ bởi kính thuốc có công dụng giúp những người có bệnh khúc xạ về mắt có thể nhìn thấy mọi vật rõ ràng hơn. Ngoài ra, kính đeo mắt còn có loại kính râm phù hợp cho người đi nắng để bảo vệ đôi mắt khỏi khói bụi, ánh sáng mặt trời,... khi ra đường.

Có kính bơi bảo vệ mắt các vận động viên bơi lội ở trong môi trường nước; kính an toàn bảo vệ mắt chống lại các mảnh vụn bay dành cho công nhân xây dựng hoặc kỹ thuật viên phòng thí nghiệm,... Với xu hướng như ngày nay, nhiều bạn trẻ còn coi chiếc kính đeo mắt như một món đồ thời trang, thể hiện phong cách độc đáo, trẻ trung.


Thế nhưng, kính mắt cũng có một số hạn chế mà ta cần biết. Đó là không phù hợp với một số môn thể thao, đặc biệt là thể thao mạnh; dễ bị dính hơi nước do nước nóng, thức ăn nóng, bơi, mưa, thời tiết thay đổi đột ngột; khi trầy xước thì khó khôi phục, nếu khôi phục thì mất nhiều thời gian, tiền, và cần đến chuyên gia (mặc dù kính hầu như rất bền và chống xước tốt); đối với loại kính thủy tinh thì rất dễ bị vỡ và khó bảo quản.

Vậy nên chúng ta cần biết cách sử dụng, bảo quản hợp lí chiếc kính đeo mắt của mình. Khi cầm lên đeo, nên cầm bằng cả hai tay, đeo thẳng để tránh gọng bị gãy hay biến dạng, khi tháo kính cũng cầm cả hai tay. Nên cầm vào phần gọng kính, không cầm vào phần mắt, dễ làm cho mắt bị mờ và chú ý khi sử dụng xong phải cất ở những nơi an toàn, dễ thấy như trong hộp kính, trong ngăn tủ,...

Không để những vật nặng đè lên kính sẽ làm cho kính bị gãy, hỏng và tránh đánh rơi kính. Thỉnh thoảng nên vệ sinh mắt kính và gọng kính bằng vải mềm và nước để khi sử dụng cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn. Người dùng kính không thường xuyên có thể buộc kính vào một sợi dây để tránh bị mất. Những người sử dụng kính cận, loạn, viễn còn cần chú ý đi kiểm tra mắt định kì và điều chỉnh kính cho phù hợp với tình trạng của mắt để chiếc kính đeo mắt trở nên hữu dụng nhất có thể.

Hãy biết cách sử dụng và bảo quản chiếc kính đeo mắt của mình thật tốt đồng thời coi đó như một người bạn thân thiết, nó sẽ giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong cuộc sống.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1 - Mẫu 5

Cuộc sống ngày càng hiện đại đã cho ra đời nhiều phát minh quan trọng. Trong đó, chiếc kính đeo mắt có vai trò to lớn trong cuộc sống.

Kính đeo mắt là một loại vật dụng gồm các thấu kính thủy tinh hoặc nhựa cứng đặt trong khung để đeo trước mắt, thường với một mối nối qua mũi và hai thanh tựa vào hai tai. Trong đời sống, kính mắt thường được dùng chữa các tật khúc xạ của mắt như cận thị và viễn thị.

Hình dạng ban đầu là một thấu kính bằng thạch anh được tìm thấy trong di chỉ khảo cổ ở IRắc. những chiếc kính mắt thực sự được ghi nhận đầu tiên vào năm 1260 tại Ý. Năm 1730, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra hai càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính mắc vào mắt một cách chắc chắn, là hình ảnh của chiếc kính ngày nay.

Mỗi chiếc kính đều có hai bộ phận chính là gọng kính và tròng kính. Gọng kính gồm phần trước để đỡ mắt kính, hình dáng giống mắt kính và phần sau để gá vào tai khi đeo kính giữ cho kính không bị rơi, trượt xuống. . Gọng làm bằng kim loại chống gỉ hoặc chất dẻo (cứng hoặc dẻo).

Xem thêm: Chuối Hột Rừng Có Tác Dụng Gì? Giá Tiền, Nơi Mua Và Cách Sử Dụng

Gọng kính làm khung cho kính và là bộ phận nâng đỡ tròng kính. Gọng kính cũng gồm hai phần được nối với nhau bởi một khớp sắt nhỏ. Phần sau giúp gài kính vào vành tai. Phần trước đỡ lấy tròng kính và giúp tròng kính nằm vững trước mắt. Phần cuối được uốn cong để đặt lên vành tai. Giữa hai phần khung mắt được nối với nhau bằng một khớp động để mở gấp.

Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì tròng kính chủ yếu làm bằng chất liệu thủy tinh, nó có ưu điểm là ít trầy xước, giữ được độ trong suốt lâu, nhưng kính thường nặng, nhất là những kính có độ cao, dễ vỡ và không an toàn cho người sử dụng. Ngày nay các loại kính bằng chất liệu thủy tinh ít được sử dụng nữa mà người ta thay thế bằng nhiều loại vật liệu tổng hợp ưu việt hơn.

Tròng kính plastic có ưu điểm nhẹ hơn, khó vỡ khi va đập, có thể nhuộm màu dễ dàng, nhưng dễ trầy xước do mềm hơn thủy tinh và để lâu thường bị lão hóa, ngả vàng. Tròng kính polycarbonate có nhiều đặc tính vượt trội hơn tròng thủy tinh và plastic, chất liệu này cứng hơn các loại kính khác nên có tính chống va đập cao, tròng mỏng, khó vỡ, chống tia UV tốt nên rất an toàn.


Loại mắt kính này nhẹ và dùng rất phù hợp cho loại gọng kính bắt ốc, kính thời trang, thể thao mà không cần có khung viền đỡ xung quanh. Tròng kính trivex có tính năng như mắt kính polycarbonate (trong suốt, mỏng, nhẹ, khó vỡ và chống tia cực tím) nhưng còn thêm ưu điểm nữa là có độ dẻo (dễ uốn nắn) và khả năng định hình cao (phục hồi trạng thái khi bị biến dạng). Tròng trivex là tiêu biểu cho sự đột phá về công nghệ tròng kính, đây là loại tròng đắt tiền, hiện vẫn chưa có trên thị trường Việt Nam.

Tròng kính đề được phủ các lớp bảo vệ. Lớp màu là lớp áo ngoài làm giảm lượng ánh sáng vào mắt, nhằm mục đích thẩm mỹ và thời trang, cải tiến với nhiều gam màu… Lớp chống tia cực tím có nguồn gốc chủ yếu từ ánh sáng mặt trời (gốc UVC, UVB, UVA – nguy hiểm nhất)… Lớp chống tia điện từ hay còn gọi là lớp mạ tĩnh điện là lớp mạ nhằm giảm sức hút tĩnh điện của tròng kính…

Lớp chống trầy / lớp tráng cứng làm tăng độ cứng của tròng và tăng khả năng chống trầy xước bề mặt. Lớp chống trầy ứng dụng cho các các loại tròng plastic dễ trầy… Lớp chống phản quang / chống chói hình thành do được phủ nhiều lớp bảo vệ làm tăng ánh sáng thẳng vào mắt. Lớp chống bám nước / lớp váng dầu làm cho những lớp hơi sương hay nước bám trên tròng kính, gây mờ, khó quan sát, sẽ tụt đi dễ dàng…

Có rất nhiều loại kính mắt: kính thuốc, kính râm, kính bơi, kính thợ hàn, kính trắng không số, kính thời trang... Trong đó thì kính thuốc chỉ định cho những người bị mắc các tật khúc xạ như cận thị, viễn thị, loạn thị. Đơn kính phải do thầy thuốc nhãn khoa chỉ định sau khi đã tiến hành khám mắt toàn diện.

Kính an toàn để hạn chế dị vật, chống mảnh vỡ bay vào mắt, chắn bức xạ. Kính râm giúp người đeo nhìn tốt hơn trong ánh sáng ban ngày, bảo vệ khỏi tia UV, hoặc chỉ dùng để che đôi mắt. Kính trượt tuyết, kính bơi để ngăn gió, ngăn nước. Kính thời trang để tôn lên vẻ đẹp của khuôn mặt. Bên cạnh đó còn có kính để xem phim 3D và 4D.

Kính đeo mắt là một vật dụng quan trọng trong đời sống hiện đại nên khi sử dụng ta cần có những chỉ dẫn rõ ràng và đựng trong túi (hộp), lau chùi thường xuyên.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 2: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi

Dàn ý bài viết số 3 lớp 8 đề 2

1. Mở bài: Nêu khái quát vai trò của bút máy trong xã hội ngày nay (Bút máy là một dụng cụ học tập rất cần thiết cho người học sinh. Trong thời đại ngày nay, khi bút bi đang chiếm ưu thế thì bút máy vẫn được nhiều người sử dụng với ưu điểm mà bút bi không có được.)

2. Thân bài:

* Cấu tạo:

+ Ngày xưa bút (bút tay) chỉ có ngòi cắm vào cán bút (cán này không thể đựng mực hoặc dẫn mực được). Người viết phải luôn cầm theo lọ mực, viết đến đâu chấm vào mực đến đó.

+ Ngày nay bút có cấu tạo phức tạp hơn có phần ruột chứa được nhiều hơn, người viết chỉ cần bơm đầy mực là có thể sử dụng cả ngày không cần phải xách theo bình mực rất bất tiện gọi là bút máy. Bút máy có cấu tạo gồm hai phần:

Vỏ viết: Được làm bằng nhựa (có khi bằng sắt …). Bên dưới là phần thân viết bao bọc bên ngoài để bảo quản cho ruột viết. Phần nắp đậy phía trên phần thân. (hai phần này có khi đồng bộ cùng màu hoặc có màu sắc tương phản, phần nắp thường có màu sáng nổi bật).

Ruột viết: Phần đầu để viết (tạo nét chữ) gồm có ngòi bằng kim loại. Có một lưỡi gà đỡ ngòi viết và điều hoà mực vừa đủ khi ngòi tạo chữ.

- Phần dưới gồm một ống dẫn mực nhỏ xíu bên trong có một đầu cắm vào lưỡi gà. Một ống nhựa mềm dẻo đựng mực nối vào phần giữa bao bọc ngòi và lưỡi gà ở phần trên.

-> Nhìn chung thì cấu tạo của cây viết rất đơn giản nhưng cũng rất tinh vi dần theo tháng năm.

* Các loại bút: Bút Hồng Hà, bút Hê-rô, bút Trung Quốc 307, bút Kim Tinh …

* Tác dụng, cách bảo quản:

- Bơm mực đầy ống nhựa bằng cách bóp mạnh rồi cấm phần đầu bút vào bình mực vào buông tay từ từ, mực bị hút vào ruột rất nhiều có thể sử dụng suốt buổi học rất tiện lợi. Không bị mực đổ vấy bẩn áo quần, tay chân, tập vở rất sạch sẽ.

- Phần ngòi bút là phần quan trọng cho nên khi mua bút, người sử dụng cần lựa chọn ngòi thật kỹ. Ấn nhẹ mũi ngòi xuống giấy để tạo chữ kiểm tra độ êm tay của ngòi.

- Cần giữ ngòi không bị tróc ra (gai) thì sẽ không thể viết được. Tránh mạnh tay để xuống bàn, ngòi đâm mạnh vào vật cứng ứa ra, đầu viết sẽ bị sốc, khó viết. Khi viết xong phải đậy nắp bút lại rồi mới đặt xuống bàn.

- Mực lọc không có cặn để không làm tắc ống dẫn mực. Khi sử dụng lâu lâu ta cần phải rửa bút bằng nước nóng, lau khô bơm mực sử dụng tiếp.


- Không vặn nắp bút quá chặt tay, nắp sẽ bể. Bỏ bút vào trong hộp dựng tránh rớt xuống đất dễ hư ngòi, bể và hỏn

3. Kết bài: Bút rất thiết thực của mọi người dân đặc biệt là với học sinh. Quý trọng và giữ gìn bút kĩ hơn.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 2 - Mẫu 1

Cây bút máy là sản phẩm công nghiệp.

Các thầy đồ, thư sinh ngày xưa thích dùng bút lông, mực tàu, nghiên mực. Đầu thế kỉ XX, các thầy thông, thầy ký trong công sở của Pháp mới có cà vạt, giấy da, bút máy giắt túi áo, phì phèo thuốc lá, “Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” (Thơ Tú Xương). Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ai có xe đạp Phượng Hoàng để đi, có đài bán dẫn để nghe tin tức, ca nhạc, có bút máy Kim Tinh để xài, thế là sang, là oách. Gần đây, lại thấy một số ông bà Việt Kiều về thăm quê mặc váy, áo màu tha thướt, xức nước hoa thơm “điếc” mũi, tay xách túi ngoại, cổ và tai lấp lánh ngọc vàng, viết bằng bút máy ngoại trăm đô, nghìn đô ai nhìn thấy cũng phải “lóa mắt”.

Cây bút máy dùng để học tập, để ghi chép, viết lách rất thông dụng, tiện lợi. Nhưng có lúc, có thời, có người, cây bút máy còn là thứ để “khoe”, để tỏ rõ sự sang trọng, hơn người!

Cây bút máy có các bộ phận sau: thân bút, nắp bút, ngòi bút, lưỡi gà, ống đựng mực (ruột bút)... Thân bút, nắp bút thường bằng nhựa, có in rõ nhãn hiệu. Cặp bút được đính vào nắp bút, thường bằng kim loại màu vàng vừa để trang trí vừa để cặp vào túi áo cho tiện lợi. Ngòi bút máy hình lưỡi giáo nổi bật dòng chữ nhãn hiệu rất xinh, bằng thứ kim loại màu hoặc bạc, đầu mũi bút là “hạt gạo” trong, bé tí. Ngòi bút máy đính vào lưỡi gà ở cổ bút đều bằng nhựa cứng, màu đen. Ống đựng mực của bút máy có thể bằng cao su hoặc bằng tuýp nhựa.

Cây bút máy dài độ 15 cm, to bằng ngón tay út, bằng nhựa màu, cứng, có dáng hình khá đẹp. Mực bút máy (màu xanh, màu đen, màu tím) là thứ mực chuyên dụng; không thể dùng lẫn lộn vì dễ làm tắc nghẽn mực viết. Thỉnh thoảng phải lau chùi ngòi, phải “tắm rửa” bút máy thì bút máy mới hữu dụng, tiện lợi.

Có thể nói, cây bút máy là người bạn thân thiết, quý mến của mỗi chúng ta thời cặp sách. Bút mực tím, bút hoa sim của nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà được học sinh ưa dùng, có tác dụng lớn trong việc luyện chữ, thi Vở sạch chữ đẹp của học sinh Tiểu học hiện nay.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 2 - Mẫu 2

Trong rất nhiều loại bút mà con người sử dụng hằng ngày thì cây bút máy tiện dụng và cần thiết đối với tầng lớp học sinh, sinh viên, giáo viên và công chức.

Cây bút máy có nguồn gốc từ châu Âu, được đưa vào nước ta từ đầu thế kỉ XX, nhưng phải đến giữa thế kỉ nó mới trở thành vật dụng quen thuộc và phổ biến.

Cây bút dài 14 cm, đường kính khoảng 1 cm. Cấu tạo của bút máy gồm hai phần chính: Bên ngoài và bên trong, vỏ bút gồm nắp và thân. Đa số nắp làm bằng nhựa, cùng loại nhựa với thân bút, phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên. Hoặc được làm bằng kim loại (nhôm, sắt mạ bạc, mạ vàng), có cái để gài vào túi áo hoặc sách vở. Thân bút hình trụ rỗng, thon dần về phía đuôi, vỏ bút có nhiệm vụ bảo vệ cho các bộ phận bên trong.

Bên trong bút gồm các bộ phận: Ngòi bút, lưỡi gà, ống dẫn mực và ruột đựng mực. Ngòi bút làm bằng kim loại không rỉ, ở đầu có chấm tròn nhỏ gọi là hạt gạo. Nửa trên của ngòi có rãnh giữa để dẫn mực khi viết. Nửa phần dưới cong, ốp sát vào bộ phận lưỡi gà có các rãnh ngang làm nhiệm vụ giữ không cho mực tràn ra đầu bút. Ống dẫn mực ngắn độ 3 cm, nhỏ như cây tăm, làm bằng nhựa trong và dẻo. Đầu trên gắn vào lỗ tròn của lưỡi gà, đầu kia thông với ống chứa mực. Ống chứa mực dài khoảng 5 cm, bằng cao su hoặc nhựa mềm, được bảo vệ bằng lớp kim loại mỏng.

Khi ta nhúng đầu ngòi bút vào bình mực, lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp nhẹ vào ruột bút thì mực sẽ được hút vào ống chứa (ruột bút). Xong xuôi, cho đầu bút vào phần thân bút, xoay từ từ cho gắn chặt vào nhau là có thể sử dụng được.

Lúc viết xong, ta nhớ lấy giấy mềm hoặc miếng giẻ ẩm, lau kĩ ngòi bút cho mực không đóng cặn. Cứ dùng khoảng 1 tháng thì tháo rời các bộ phận ra cho vào nước lã; rửa và thông thật sạch rồi lau khô, lắp lại như cũ. Nếu bảo quản tốt, bút máy có thể sử dụng được trong một thời gian rất dài. Tuyệt đối không được đâm ngòi bút vào vật cứng, đầu ngòi sẽ hư, không viết được nữa.

Đối với lứa tuổi học sinh, cây bút máy là vật dụng không thể thiếu. Viết bằng bút máy, nét chữ sẽ đều và đẹp hơn hẳn viết bằng bút bi. Chiếc bút máy Hồng Hà mà bố mua tặng cho em từ năm ngoái đến giờ trông vẫn như còn mới. Ngày ngày, cây bút cùng em tới trường. Nó đã trở thành người bạn nhỏ thân thiết của em.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 2 - Mẫu 3

Có ai trong đời mà không viết hay chỉ đơn giản là vẽ vài nét? Như vậy, không có ai là không một lần cầm chiếc bút nói chung cũng như bút máy nói riêng. Mọi đối tượng đều dùng bút, không cần phân biệt độ tuổi hay nghề nghiệp.

Trong đời sống, giá trị của những chiếc bút là một vật dụng thiết yếu, một người bạn thân thiết với người học. Đối với những người mà không được ở gần nhau, chiếc bút máy giúp con người bày tỏ những suy nghĩ, những điều muốn nói, mà họ không có điều kiện nói chuyện với nhau. Chiếc bút giúp tình cảm con người dù xa cách nhau, có thể vượt không gian và thời gian để xích lại gần nhau hơn; và chiếc bút trở thành thông điệp kết nối những trái tim. Còn có rất nhiều những tác phẩm văn học nghệ thuật nổi tiếng được tạo nên từ những cây bút nhỏ xinh. Cây bút giúp con người xây dựng nên một nền văn hóa phong phú và kho tàng kiến thức cho nhân loại. Ở trường hợp khác, những nhà sử học, những người lính trong kháng chiến, đã dùng cây bút để ghi lại những sự kiện lịch sử, những bài ca để đời. Chiếc bút cũng giống như cỗ máy thời gian của chú mèo máy Doraemon đưa con người quay lại quá khứ và ngắm nhìn lại những sự kiện trong quá khứ. Vậy đấy, bút máy thật có giá trị với con người. Nhưng để có chiếc bút máy tiện lợi như ngày hôm nay, đã có một quá trình dài phát triển.

Bài viết liên quan